<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?> <rss
version="2.0"
xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
><channel><title>Tip4PC &#187; hardware</title> <atom:link href="http://tip4pc.com/tag/hardware/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" /><link>http://tip4pc.com</link> <description>Máy tính cho mọi người</description> <lastBuildDate>Mon, 06 Sep 2010 10:21:33 +0000</lastBuildDate> <language>en</language> <sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod> <sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency> <generator>http://wordpress.org/?v=3.0.1</generator> <item><title>[Tip] &#8211; Tự làm một bóng đèn dùng nguồn USB</title><link>http://tip4pc.com/tu-lam-bong-den-usb/</link> <comments>http://tip4pc.com/tu-lam-bong-den-usb/#comments</comments> <pubDate>Thu, 04 Jun 2009 19:01:20 +0000</pubDate> <dc:creator>Thành Nguyễn</dc:creator> <category><![CDATA[Máy tính]]></category> <category><![CDATA[hardware]]></category><guid
isPermaLink="false">http://tip4pc.com/?p=2769</guid> <description><![CDATA[Một bóng đèn nhỏ sử dụng nguồn từ USB thì thật là tiện nếu như bạn cần mở thùng máy tính trong môi trường thiếu ánh sáng, vậy thử vọc một chút xem, chắc chắn bạn sẽ thấy việc làm một bóng đèn như thế rất dễ dàng, chi phí lại khá rẻ. :2:]]></description> <content:encoded><![CDATA[<p>Trên thị trường máy tính từ lâu đã xuất hiện loại đèn LED dùng điện từ cổng USB của Trung Quốc phục vụ cho việc chiếu sáng bàn phím máy tính xách tay, để đọc sách. Có được một chiếc đèn mini như vậy cũng thật tiện lợi khi bạn muốn kiểm tra mainboard trong điều kiện ánh sáng không đủ, lại không cần phải lo thay pin vì chỉ cần cắm điện là xài. Tuy vậy giá của một ngọn đèn như vậy ngót nghét cũng gần trăm ngàn. Vậy tại sao chúng ta không thể tự tạo một ngọn đèn như vậy chỉ với vài linh kiện sẵn có với giá mềm hơn rất nhiều. Trong một lần tình cờ lướt web, tôi đã tìm được sơ đồ chế tạo của ngọn đèn này và đã thực hiện thành công, xin giới thiệu cùng bạn đọc.</p><p
style="text-align: center;"><a
href="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/06/den0.jpg" rel="nofollow"><img
class="alignnone size-full wp-image-2988" title="den0" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/06/den0.jpg" alt="den0" width="293" height="171" /></a></p><p><strong>1. Linh kiện cần thiết:</strong></p><blockquote><p>- 1 sợi dây nối USB, giá khoảng 15.000đ/sợi.</p><p>- 1 bóng đèn LED loại 5mm, màu gì cũng được, nhưng nên mua màu trắng cho đẹp, giá khoảng 2.000/bóng.</p><p>- 1 điện trở 47 Ohm, giá 500đ/cái.</p></blockquote><p>Bạn có thể tìm thấy tất cả linh kiện trên tại chợ điện tử Nhật Tảo.</p><p><strong>2. Sơ đồ:</strong></p><p
style="text-align: center;"><strong><a
href="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/06/den.jpg" rel="nofollow"><img
class="alignnone size-full wp-image-2984" title="den" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/06/den.jpg" alt="den" width="360" height="142" /></a></strong></p><p
style="text-align: center; "><strong> </strong></p><p
style="text-align: center;"><strong> </strong></p><p>Đây là hình của 1 giắc cắm cổng USB cùng vị trí các chân. Theo như sơ đồ thì ta chỉ cần dùng 2 chân bên ngoài cùng để cấp điện cho LED. Ở đây, ta phải dùng điện trở 47 Ohm là để hạn dòng cho điện áp đi qua vừa đủ với bóng LED (khoảng 25mA).</p><p><strong>3. Tiến hành</strong></p><p>Đầu tiên, bạn cắt 1 đầu dây ra, chừa đầu giắc kết nối với USB máy tính ra. Kế đến, bạn tuốt phần nhựa ở đầu dây mới cắt, sẽ có 4 sợi dây bên trong với lần lượt các màu của từng sợi là: đỏ, trắng, xanh lá và đen.</p><p
style="text-align: center;"><a
href="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/06/den2.jpg" rel="nofollow"><img
class="alignnone size-full wp-image-2985" title="den2" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/06/den2.jpg" alt="den2" width="419" height="302" /></a></p><p>Trong 4 sợi này, bạn bỏ 2 sợi màu trắng và màu xanh lá vì chúng chỉ có chức năng truyền dữ liệu từ thiết bị đến máy tính, có thể dùng băng keo dán để tránh 2 sợi này vô tình tiếp xúc với nhau.</p><p
style="text-align: center;"><p>Đây là sơ đồ kết nối dây vào chân đèn LED. Bạn chú ý gắn vào cho đúng chân, sợi dây màu đỏ sẽ gắn vào điện trở, rồi từ điện trở gắn vào chân dài hơn của bóng LED (cực dương +). Cách gắn cho các chân tiếp xúc với nhau như thế nào cho đẹp là tùy vào sự khéo léo của bạn, bạn có thể dùng hàn chì để cố định, hoặc đơn giản chỉ cần quấn các chân và dây lại với nhau cũng được.</p><p
style="text-align: center;"><a
href="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/06/den3.jpg" rel="nofollow"><img
class="alignnone size-full wp-image-2986" title="den3" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/06/den3.jpg" alt="den3" width="475" height="73" /></a></p><p
style="text-align: center;"><p>Vậy là bạn đã tự thực hiện xong chiếc đèn LED mini, việc làm sao cho đẹp hơn nữa là tuỳ vào khả năng sáng tạo của bạn, hãy thử cắm vào cổng USB trên máy tính xem.</p><p
style="text-align: right;"><strong>Nguồn: echip.com.vn</strong></p> ]]></content:encoded> <wfw:commentRss>http://tip4pc.com/tu-lam-bong-den-usb/feed/</wfw:commentRss> <slash:comments>5</slash:comments> </item> <item><title>[Hardware] &#8211; Tự tay lắp ráp CPU Intel Socket LGA755</title><link>http://tip4pc.com/tu-lap-rap-cpu-intel-socket-lga755/</link> <comments>http://tip4pc.com/tu-lap-rap-cpu-intel-socket-lga755/#comments</comments> <pubDate>Thu, 04 Jun 2009 09:14:52 +0000</pubDate> <dc:creator>Thành Nguyễn</dc:creator> <category><![CDATA[Máy tính]]></category> <category><![CDATA[hardware]]></category><guid
isPermaLink="false">http://tip4pc.com/?p=2765</guid> <description><![CDATA[Tự mình lắp ráp máy tính không khó như nhiều người tưởng, chỉ cần một số lưu ý là bạn đã tự mình tháo ráp máy tính được thôi, hãy tham khảo cách gắn CPU này nhé.]]></description> <content:encoded><![CDATA[<p>Trước tiên, bạn nhớ đeo vào cổ tay mình một chiếc vòng chống sốc tĩnh điện  (electrostatic wrist strap) nhé. Nó có bán ở các cửa hàng linh kiện máy tính, rẻ  rề à. Nếu không có sẵn vòng chống tĩnh điện, bạn có thể tự xả tĩnh điện  (electrostatically discharged) cho mình bằng cách chạm tay vào phần vỏ kim loại  của bộ nguồn PSU đang gắn trong thùng máy (không cần phải bật điện lên đâu).</p><p
style="text-align: center;"><img
src="http://www.mediazone.vn/home/images/stories/sts/so29/b11-4.jpg" border="0" alt="" width="230" height="230" /></p><p><strong><span
style="color: #ff00ff;">01</span></strong> CPU là bộ phận quan trọng và  nhạy cảm nhất của một chiếc máy tính. Vì lẽ đó, bạn cần phải hết sức cẩn trọng  khi đụng chạm tới nó. Tuyệt đối không được rờ mó chi tới mặt có chân hay điểm  tiếp xúc của CPU. Luôn luôn cầm CPU bằng 2 ngón tay giữ ở hai cạnh của nó. Trong  ảnh là một con CPU Intel Core 2 Duo Socket LGA775.</p><div
style="text-align: center;"><img
src="http://www.mediazone.vn/home/images/stories/sts/so29/b11-5.jpg" border="0" alt="" width="331" height="210" /></div><p><strong><span
style="color: #ff00ff;">02</span></strong> Đây là Socket LGA775, nơi CPU  sẽ “an vị”. Để bảo vệ các chân tiếp xúc của socket, nhà sản xuất đậy socket bằng  một miếng nắp nhựa. Bạn gỡ miếng nhựa bảo vệ ra. Bạn phải giữ kỹ miếng nắp  socket này, vì các hãng sẽ không nhận bảo hành mainboard nào bị mất nắp.</p><p
style="text-align: center;" align="center"><img
class="aligncenter" src="http://www.mediazone.vn/home/images/stories/sts/so29/b11-6.jpg" border="0" alt="" width="338" height="257" /></p><p><strong><span
style="color: #ff00ff;">03</span></strong> Đây là Socket LGA775 sau khi  đã được gỡ nắp nhựa bảo vệ.</p><p
style="text-align: center;"><img
src="http://www.mediazone.vn/home/images/stories/sts/so29/b11-7.jpg" border="0" alt="" width="330" height="250" /></p><p><strong><span
style="color: #ff00ff;">04</span></strong> Bạn dùng tay nhấn nhẹ phần đầu  của thanh đòn bẩy hình chữ J để nó ra khỏi khớp gài rồi giở nó hết cỡ về phía  sau. Bây giờ, bạn có thể mở chiếc nắp kim loại của socket. Nhớ là các thao tác  phải thật nhẹ nhàng nhé.</p><p
style="text-align: center;"><img
src="http://www.mediazone.vn/home/images/stories/sts/so29/b11-8.jpg" border="0" alt="" width="329" height="299" /></p><p><strong><span
style="color: #ff00ff;">05</span></strong> Bạn dùng hai ngón tay cầm  hai cạnh của CPU và đặt nhẹ nhàng xuống socket. Không được đè, được nhấn gì ráo  trọi! Chú ý đặt cho đúng chiều nhé. Dễ mà! Bạn chỉ cần cho 2 chỗ khoét lõm trên  hai mép CPU khớp vào hai mấu nhỏ ở hai cạnh trong của socket.</p><p
style="text-align: center;"><img
src="http://www.mediazone.vn/home/images/stories/sts/so29/b11-9.jpg" border="0" alt="" width="328" height="301" /></p><p><strong><span
style="color: #ff00ff;">06</span></strong> Sau khi CPU đã đâu vào đấy,  bạn đóng chiếc nắp kim loại của socket lại như cũ. Dùng một ngón tay giữ phần  đầu của nắp đậy rồi điều chỉnh thanh đòn bẩy cho cái ngàm của nó ăn gọn lên phần  mấu của nắp đậy. Sau đó, bạn gài thanh đòn bẩy vào chốt khóa của nó bằng cách  đẩy nó về phía trước, khi tới gần cuối thì hơi dịch ra ngoài một chút xíu rồi  nhấn nhẹ xuống và kéo nó gài vào chốt.<br
/> Vậy là bạn đã hoàn thành xuất sắc công đoạn gắn CPU vào mainboard rồi đó. Bây  giờ, ta gắn quạt cho CPU.</p><p
style="text-align: center;"><img
src="http://www.mediazone.vn/home/images/stories/sts/so29/b12-1.jpg" border="0" alt="" width="329" height="257" /></p><p
style="text-align: left;"><strong><span
style="color: #ff00ff;">07</span></strong> Khi mua CPU Socket LGA775  nguyên hộp, bạn sẽ có sẵn một chiếc quạt CPU của Intel. Nhưng bạn cũng có thể sử  dụng quạt LGA775 “xịn” hơn của một hãng thứ ba. Ở đây, ta gắn quạt LGA775 của  một hãng thứ ba nhưng có hình thức giống hệt quạt Intel gốc. Hãy cẩn thận trong  thao tác vì các chân cắm của đế quạt rất dễ gãy đó!</p><p
style="text-align: center;"><img
src="http://www.mediazone.vn/home/images/stories/sts/so29/b12-2.jpg" border="0" alt="" width="328" height="256" /></p><p
style="text-align: left;"><strong><span
style="color: #ff00ff;">09 </span></strong>Đặt quạt lên khu vực socket CPU  sao cho tất cả mũi 4 chân quạt (phần nhựa trắng) đều lọt gọn vào trong 4 chiếc  lỗ trên mainboard. Kiểm tra cho chắc nhé, nếu không, khi gài chốt, bạn có thể  làm gãy các chân quạt nào chưa lọt đúng vào lỗ. Bây giờ, bạn dùng hai ngón tay  cái nhấn mạnh theo chiều thẳng đứng lên hai đầu chân cắm ở hai phía đối diện  nhau cho tới khi nào nghe có tiếng “cạch” một cái báo hiệu chân đã được khóa  hoàn toàn. Nhớ là phải đóng khóa cùng một lúc hai chân đối diện để tránh tình  trạng một bên chịu áp lực quá lớn gây tổn hại cho CPU và socket. Xong hai chân  khóa này, bạn tiến hành đóng khóa hai chân còn lại.</p><p
style="text-align: center;"><img
src="http://www.mediazone.vn/home/images/stories/sts/so29/b12-4.jpg" border="0" alt="" width="233" height="181" /></p><p><strong><span
style="color: #ff00ff;">10</span></strong> Đây là hình ảnh chân khóa quạt  LGA775 đã được khóa chính xác. Nó nằm ở mặt dưới của mainboard đó bạn nhé.</p><p
style="text-align: center;"><img
class="aligncenter" src="http://www.mediazone.vn/home/images/stories/sts/so29/b12-5.jpg" border="0" alt="" width="235" height="189" /></p><p
style="text-align: center;"><img
src="http://www.mediazone.vn/home/images/stories/sts/so29/b12-6.jpg" border="0" alt="" width="264" height="188" /></p><p><strong><span
style="color: #ff00ff;">11</span></strong> Gắn quạt xong rồi, bạn gắn  đầu cắm nguồn của quạt vào chân cắm quạt CPU (thường ghi là CPU_FAN). Nó có  khớp, bạn chỉ việc lựa cho vào đúng vị trí mà thôi.</p><p>Bây giờ thì việc gắn CPU và quạt đã hoàn tất. Bảnh tỏn không? Chúc mừng bạn nhé!  b)</p><p
style="text-align: right;"><strong> DIGIMANIA<br
/> </strong>(Tham khảo HardwareZone)</p><p
style="text-align: right;"><strong>Nguồn: mediazone.vn</strong></p> ]]></content:encoded> <wfw:commentRss>http://tip4pc.com/tu-lap-rap-cpu-intel-socket-lga755/feed/</wfw:commentRss> <slash:comments>2</slash:comments> </item> <item><title>[Kinh nghiệm] &#8211; Sửa lỗi phần cứng khi không thể khởi động máy tính</title><link>http://tip4pc.com/sua-loi-phan-cung-khi-khong-the-khoi-dong-may-tinh/</link> <comments>http://tip4pc.com/sua-loi-phan-cung-khi-khong-the-khoi-dong-may-tinh/#comments</comments> <pubDate>Wed, 20 May 2009 17:00:42 +0000</pubDate> <dc:creator>Thành Nguyễn</dc:creator> <category><![CDATA[Máy tính]]></category> <category><![CDATA[hardware]]></category><guid
isPermaLink="false">http://tip4pc.com/?p=2434</guid> <description><![CDATA[Khi khởi động, máy tính sẽ tự động thực hiện một quá trình tự kiểm tra, gọi tắt là POST. Quá trình này sẽ kiểm tra hầu như toàn bộ các phần cứng bên trong máy như CPU, RAM, card màn hình, ổ cứng… ]]></description> <content:encoded><![CDATA[<p
style="text-align: center;"><img
class="alignnone size-full wp-image-2439" title="hwerror0" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/05/hwerror0.jpg" alt="hwerror0" width="477" height="358" /></p><p
style="text-align: left;">Khi khởi động, máy tính sẽ tự động thực hiện một quá trình tự  kiểm tra ,gọi tắt là POST. Quá trình này sẽ kiểm tra hầu như toàn bộ các phần  cứng bên trong máy như CPU, RAM, card màn hình, ổ cứng… Nếu mọi thứ đều ổn thì  hệ thống sẽ tải hệ điều hành, nhưng nếu có vấn đề chúng sẽ báo lỗi. Vậy lỗi đó  là gì? Bạn có biết được không? Bài viết này xin đề cập đến cách nhận biết mã báo  lỗi âm thanh (beep code) dùng cho các máy tính sử dụng BIOS Award hoặc Phoenix. Trước hết bạn cần xem qua một số mã lỗi âm thanh thường gặp sau đây:<span
id="more-2434"></span></p><p
style="text-align: left;"><table
id="table1" style="text-align: left; height: 160px;" border="0" width="419"><tbody><tr><td
align="center" bgcolor="#ccccff"><strong>Tiếng bíp</strong></td><td
width="243" align="center" bgcolor="#ccccff"><strong>Tình trạng hệ thống</strong></td></tr><tr><td>1 ngắn</td><td
width="243">Ổn định</td></tr><tr><td
bgcolor="#ffffcc">1 dài 1 ngắn</td><td
width="243" bgcolor="#ffffcc">RAM bị lỗi</td></tr><tr><td>1 dài 2 ngắn</td><td
width="243">Card màn hình bị lỗi</td></tr><tr><td
bgcolor="#ffffcc">Dài liên tục</td><td
width="243" bgcolor="#ffffcc">RAM không được gắn đúng</td></tr><tr><td>Ngắn liên tục</td><td
style="text-align: left;" width="243">Bộ cấp nguồn bị lỗi hay bị quá nhiệt</td></tr></tbody></table><p
style="text-align: left;"><p
style="text-align: left;">- Trong trường hợp RAM bị lỗi, thường là do lâu ngày bị bám bụi bẩn nên các khe  RAM tại chỗ tiếp xúc bị dơ hoặc cũng có thể thanh RAM bị hỏng do một số lý do  nào đó. Bạn hãy tắt máy và tháo lần lượt từng thanh RAM ra và xem chúng có bị  cháy hay hỏng không. Bạn hãy thử dùng một cục tẩy chùi sạch chỗ tiếp xúc trên  thanh RAM sau đó dùng một cọ nhỏ và một bình xịt nhớt RP7 để làm sạch khe RAM,  cách làm là bạn dùng bình xịt phun một lớp dầu lên một bàn chải rồi nhẹ nhàng  chà lên khe RAM, do đặc tính ăn mòn nhẹ của RP7 sẽ lấy đi đáng kể những bụi bẩn  hay do bị oxy hóa. Xong bạn lắp lại và bật máy để xem có hoạt động bình thường  không. Nếu chưa thì bạn nên thay bằng một thanh RAM khác xem sao.</p><p
align="justify">- Đôi khi chúng ta cũng gặp thông báo lỗi card màn hình. Điều  này có thể do card màn hình bị hỏng, chỗ tiếp xúc không tốt hay do bị lỏng đầu  cắm và thường đi kèm với hiện tượng màn hình không hiển thị hình ảnh. Bạn hãy  thử siết hai ốc chỗ đầu cắm từ màn hình vào card màn hình xem sao. Nếu vẫn chưa  được thì bạn xem lại card đã được gắn chặt vào khe hay chưa. Hãy thử thay bằng  một card mà bạn biết là nó vẫn sử dụng tốt. Nếu sau khi thay thế bằng một card  màn hình khác mà hệ thống hoạt động ổn định thì tốt nhất bạn nên mua một card  mới.</p><p
style="text-align: center;"><img
class="alignnone size-full wp-image-2438" title="hwerror" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/05/hwerror.jpg" alt="hwerror" width="448" height="336" /></p><p>- Cuối cùng là trường hợp lỗi bộ cấp nguồn hoặc do hệ thống bị quá nhiệt, trước  hết chúng ta cần kiểm tra lại các đầu cắm từ bộ cấp nguồn đến bo mạch xem đã  được gắn chặt hay chưa. Nếu máy báo lỗi thì bạn hãy thử thay bộ cấp nguồn hoặc  vào BIOS để kiểm tra nhiệt độ CPU. Nếu nhiệt độ của CPU cao hơn mức 50 độ C thì  bạn cần kiểm tra lại hệ thống quạt của CPU và của thùng máy. Hãy xem các lỗ  thông gió có bị bẩn hay không. Nếu có, bạn cần tiến hành làm sạch bụi. Ngoài ra  cũng có thể do máy tính đặt gần một nguồn nhiệt nào đó. Bạn hãy thử mang nguồn  nhiệt sang chỗ khác xem sao.</p><p
align="justify">Hi vọng qua bài viết này, các bạn sẽ biết được thêm một số  kinh nghiệm để nhận biết lỗi của máy tính và cách khắc phục chúng. Chúc các bạn  thành công.</p><p
align="right">(<a
href="http://vitinhgiakhang.com/?p=1503" rel="nofollow">Sưu tầm</a>)</p> ]]></content:encoded> <wfw:commentRss>http://tip4pc.com/sua-loi-phan-cung-khi-khong-the-khoi-dong-may-tinh/feed/</wfw:commentRss> <slash:comments>6</slash:comments> </item> <item><title>[Cần biết] &#8211; Những vấn đề thường gặp với bộ nguồn</title><link>http://tip4pc.com/can-biet-nhung-van-de-thuong-gap-voi-bo-nguon/</link> <comments>http://tip4pc.com/can-biet-nhung-van-de-thuong-gap-voi-bo-nguon/#comments</comments> <pubDate>Mon, 18 May 2009 17:00:13 +0000</pubDate> <dc:creator>Thành Nguyễn</dc:creator> <category><![CDATA[Máy tính]]></category> <category><![CDATA[hardware]]></category><guid
isPermaLink="false">http://tip4pc.com/?p=2418</guid> <description><![CDATA[Bạn hãy hình dung một ngày nào đó nhà bạn bị mất điện? Vâng, mọi thiết bị điện đều sẽ trở thành vô ích nếu nó không được cấp điện. Và máy tính cũng vậy, nếu không có bộ cấp nguồn thì chiếc máy tính cũng chỉ là một đống sắt vụn không hơn không kém. Nếu máy tính có một bộ cấp nguồn không đủ công suất hoặc có chất lượng tồi thì sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống, nhưng bạn sẽ không thể nào nhận biết được những vấn đề như thế, cho đến khi máy tính của bạn gặp trục trặc. Sau đây là những rắc rối thường gặp với bộ cấp nguồn máy tính:]]></description> <content:encoded><![CDATA[<p
style="text-align: center;"><img
class="alignnone size-full wp-image-2419" title="psu" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/05/psu.jpg" alt="psu" width="425" height="336" /></p><p>Bạn hãy hình dung một ngày nào đó nhà bạn bị mất điện? Vâng, mọi thiết bị điện  đều sẽ trở thành vô ích nếu nó không được cấp điện. Và máy tính cũng vậy, nếu  không có bộ cấp nguồn thì chiếc máy tính cũng chỉ là một đống sắt vụn không hơn  không kém. Nếu máy tính có một bộ cấp nguồn không đủ công suất hoặc có chất  lượng tồi thì sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống, nhưng bạn sẽ không thể nào nhận  biết được những vấn đề như thế, cho đến khi máy tính của bạn gặp trục trặc. Sau  đây là những rắc rối thường gặp với bộ cấp nguồn máy tính:</p><p
align="justify">- Một bộ cấp nguồn tốt với đủ công suất có thể đáp ứng nhu  cầu của máy tính sẽ giúp đảm bảo độ bền cho nó. Nếu bộ cấp nguồn không tốt có  thể gây hiện tượng máy bị treo, ổ cứng xuất hiện cung từ bị lỗi hay xuất hiện  phần mềm bị hỏng. Hầu hết những hiện tượng này khó mà biết được lại do chính bộ  cấp nguồn gây ra.</p><p
style="text-align: center;"><img
class="alignnone size-full wp-image-2420" title="psu2" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/05/psu2.jpg" alt="psu2" width="357" height="336" /></p><p
align="justify">- Không chỉ vậy, bộ cấp nguồn cũng là thiết bị cung cấp năng  lượng cho hệ thống làm mát bên trong thùng máy. Nếu nhiệt độ quá cao đồng nghĩa  với tuổi thọ của máy sẽ giảm. Vì thế trong trường hợp này bộ nguồn vẫn đóng một  vai trò quan trọng. Các bộ cấp nguồn có chất lượng tốt và còn mới thường tiết  kiệm điện năng hơn những bộ cấp nguồn cũ hay có chất lượng tồi.<span
id="more-2418"></span></p><p
align="justify">- Công suất của bộ cấp nguồn cũng là một nhân tố quyết định  đến khả năng cài đặt một ổ cứng mới hay việc nâng cấp cho bo mạch chủ hay bộ xử  lý. Bạn có thể thấy rằng một con CPU Athlon và một bo mạch chủ gắn nó thường  tiêu tốn điện năng hơn là con Pentium. Vì thế nếu muốn nâng cấp bạn cần phải  tính đến chuyện thay bộ cấp nguồn đủ công suất cho hệ thống mới.</p><p
style="text-align: center;"><img
class="alignnone size-full wp-image-2422" title="psu4" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/05/psu4.jpg" alt="psu4" width="208" height="168" /></p><p
align="justify">- Có một vấn đề đặt ra rằng nên tắt máy tính vào lúc nào?  Điều này tùy thuộc vào từng trường hợp và tùy loại máy bạn đang sử dụng nữa. Nếu  đó là một máy chủ chất lượng cao thì việc để hoạt động 24 giờ mỗi ngày sẽ không  có vấn đề gì nhưng đối với máy tính ở nhà thì khác. Nhiều người thường hay chạy  nhiều ứng dụng cùng một lúc nên thích để máy ở chế độ hoạt động qua đêm để không  phải tốn thời gian kích hoạt lại các chương trình vào sáng hôm sau. Tuy nhiên  cách làm này làm thiết bị mau hỏng hơn, điển hình là các màn hình máy tính. Để  máy hoạt động qua đêm mà không dùng đến là lãng phí điện năng, nếu thích, bạn có  thể tắt màn hình và cài đặt chương trình quản lý điện năng trong Power  Management để tiết kiệm. Một cách khác là bạn sử dụng chế độ “ngủ đông”  (Hibernation) thay vì tắt máy.</p><p
style="text-align: center;"><img
class="alignnone size-full wp-image-2421" title="psu3" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/05/psu3.jpg" alt="psu3" width="404" height="195" /></p><p
align="justify">- Trường hợp bạn lại tiết kiệm đến mức thường xuyên tắt máy  tính mỗi khi đi đâu đó một lúc, hãy suy nghĩ lại. Các thiết bị sẽ nguội xuống  theo nhiệt độ trong phòng và khi bạn khởi động lại máy tính lại thì thiết bị sẽ  bị nóng lên rất nhanh. Quá trình này lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ gây hiện tượng  sốc nhiệt, khiến cho hệ thống bị lỗi và khiến tuổi thọ của máy tính bị giảm.</p><p
style="text-align: center;"><img
class="alignnone size-full wp-image-2423" title="psu5" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/05/psu5.jpg" alt="psu5" width="225" height="267" /></p><p
align="justify">Tốt nhất bạn chỉ nên tắt máy sau một ngày làm việc để cho các  thiết bị có thời gian nghỉ ngơi. Bạn cũng cần lưu ý đến việc làm mát khi để máy  hoạt động qua đêm vì hầu hết các văn phòng thường tắt hệ thống máy lạnh khi hết  giờ. Ngoài ra, nếu bạn không sử dụng bộ lưu điện thì điện thế không ổn định cũng  có thể gây hỏng máy. Vì thế tùy thuộc vào nhu cầu làm việc của bạn mà hãy chọn  chế độ tắt mở máy một cách thích hợp.</p><p
align="right">Phước Đặng</p><p
align="right">(<a
href="http://vitinhgiakhang.com/?p=2204" rel="nofollow">Sưu tầm</a>)</p> ]]></content:encoded> <wfw:commentRss>http://tip4pc.com/can-biet-nhung-van-de-thuong-gap-voi-bo-nguon/feed/</wfw:commentRss> <slash:comments>2</slash:comments> </item> <item><title>[Cần biết] &#8211; Máy tính có thể có bao nhiêu ổ cứng?</title><link>http://tip4pc.com/may-tinh-co-the-co-bao-nhieu-o-cung/</link> <comments>http://tip4pc.com/may-tinh-co-the-co-bao-nhieu-o-cung/#comments</comments> <pubDate>Sun, 17 May 2009 17:00:47 +0000</pubDate> <dc:creator>Thành Nguyễn</dc:creator> <category><![CDATA[Máy tính]]></category> <category><![CDATA[hardware]]></category><guid
isPermaLink="false">http://tip4pc.com/?p=2414</guid> <description><![CDATA[Câu trả lời của bạn là bao nhiêu? Bốn! Đúng không? Đúng, nếu như không có cổng USB và trên thị trường không có những Hub USB có cấp nguồn!Còn nếu như bạn sử dụng những Hub USB kèm với bộ USB-to-IDE II, thì câu trả lời sẽ là ... không rõ!]]></description> <content:encoded><![CDATA[<p>Câu trả lời của bạn là bao nhiêu? Bốn! Đúng không? Đúng, nếu như không có cổng USB và trên thị trường không có những Hub USB có cấp nguồn!</p><p>Còn nếu như bạn sử dụng những Hub USB kèm với bộ USB-to-IDE II, thì câu trả lời sẽ là &#8230; không rõ!  :rolleye:</p><p>Mỗi bộ USB2IDE sẽ gồm 2 phần: một cáp USB với đầu nối kép IDE Connector cho phép bạn chọn lựa loại ổ đĩa IDE muốn gắn thêm là đĩa cứng 2.5 inch (loại dùng cho máy tính xách tay) hay đĩa cứng 3.5 inch (loại dùng cho máy để bàn, hoặc ổ đĩa CD).</p><p>Nếu gắn loại ổ cứng 2.5 inch thì nguồn cấp từ cổng USB thẳng từ máy tính đã đủ để ổ đĩa cứng hoạt động. Nhưng với loại ổ cứng 3.5 inch hay ổ đĩa CD thì bạn sẽ cần bộ nguồn ngoài. Chính vì thế, trong bộ USB2IDE này có đính kèm theo một adapter với đầu cắm 4 chân vừa khít với lỗ cấp nguồn cho đã cứng hay ổ CD loại này.<span
id="more-2414"></span></p><p
style="text-align: center;"><img
class="alignnone size-full wp-image-2415" title="usb2ide" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/05/usb2ide.jpg" alt="usb2ide" width="480" height="313" /></p><p>Giá tham khảo cho bộ USB 2.0 &#8211; IDE với đầu nối kép này hiện nay là 14 USD</p><p>Nếu dùng với Windows 2000/XP, bạn sẽ không cần cài đặt. Nhưng với Windows 98/ME, bạn sẽ cần cài đặt thêm driver cho USB có sẳn trong đĩa CD đính kèm.</p><p
align="right"><strong>Quế Chi</strong></p><p
align="right"><strong>(<a
href="http://vitinhgiakhang.com/?p=2226" rel="nofollow">Sưu tầm</a>)</strong></p> ]]></content:encoded> <wfw:commentRss>http://tip4pc.com/may-tinh-co-the-co-bao-nhieu-o-cung/feed/</wfw:commentRss> <slash:comments>0</slash:comments> </item> <item><title>[Hardware] &#8211; Bảo vệ và tăng tuổi thọ cho cartridge (hộp mực) máy in laser</title><link>http://tip4pc.com/bao-ve-va-tang-tuoi-tho-catridge/</link> <comments>http://tip4pc.com/bao-ve-va-tang-tuoi-tho-catridge/#comments</comments> <pubDate>Wed, 25 Mar 2009 17:00:55 +0000</pubDate> <dc:creator>Thành Nguyễn</dc:creator> <category><![CDATA[Máy tính]]></category> <category><![CDATA[hardware]]></category><guid
isPermaLink="false">http://tip4pc.com/?p=1918</guid> <description><![CDATA[Bảo vệ và tăng tuổi thọ cho cartridge (hộp mực) máy in laser]]></description> <content:encoded><![CDATA[<p
align="center"><img
class="aligncenter size-full wp-image-1920" title="catridge" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/03/catridge.jpg" alt="catridge" width="240" height="240" /></p><p
align="justify">Máy in, đặc biệt máy in laser đơn sắc, là một công cụ  góp phần đắc lực trong tác vụ văn phòng. Thế nhưng, để tăng khả năng  phục vụ của máy in laser và tiết kiệm chi phí, có lẽ chúng ta cần  quan tâm đến bộ phận quan trọng hàng đầu trong máy in laser đó là:  cartridge (hộp mực).</p><p
align="justify">Tập hợp các thành phần thực hiện quá trình in ấn  của máy in laser được gọi là một hệ tạo hình &#8211; IFS (Image Formation  System) mà thành phần quan trọng hàng đầu là <strong>Photosensitive drum</strong> &#8211;  Trống cảm quang (gọi tắt là drum). Drum là một ống bằng nhôm, được  bọc một lớp hợp chất hữu cơ, với thành phần cơ bản là Selenium. Để  giảm những khó khăn trong việc sản xuất cũng như bảo trì sản phẩm,  người ta đóng các thành phần chủ yếu của IFS (gồm: trục lăn bột mực,  khoang cấp bột mực, khoang chứa bột thải, trống cảm quang, lưỡi gạt  lau trống) và bộ phận cung cấp mực vào chung một thiết bị gọi là  cartridge &#8211; hộp mực.</p><p
align="justify">Một cartridge của máy in laser thông thường hiện nay có  thể cung cấp cho ta 4.000 đến 8.000 trang in (khổ giấy A4, in theo chuẩn).  Các thành phần chính trong cartridge thì mỏng manh, dễ hỏng. Đặc biệt  là drum và toner supply (khoang cấp bột mực) rất nhạy cảm và bị ảnh  hưởng bởi ánh sáng, bởi điều kiện môi trường xung quanh. Vì vậy theo  khuyến cáo của các nhà sản xuất máy in laser, chúng ta nên theo những  nguyên tắc sau, để bảo quản tốt và tăng tuổi thọ cho cartridge:</p><p
align="justify">- Đừng để drum tiếp xúc với ánh sáng, mặc dù drum  đã được một nắp bằng nhựa dẻo hoặc bằng kim loại che chở bên ngoài.  Khi ta lấy cartridge ra khỏi máy in, ánh sáng vẫn có thể xâm nhập vào  drum qua các khe hở. Không nên tự ý mở nắp đậy ra dưới ánh sáng nếu  không cần thiết. Khi ánh sáng tác động đến drum sẽ tạo ra hiện tượng  fogging (làm mờ). Nếu drum bị phơi thẳng dưới ánh sáng rất có thể nó  sẽ bị hỏng vĩnh viễn lớp bao phủ bên ngoài thanh nhôm. Cách xử lý khi  cartridge bị hiện tượng fogging là bạn nên cho nó vào bao nhựa đen, để  trong bóng tối vài ngày. Khi mang cartridge đi nạp mực, tốt nhất là  bạn cho nó vào một bao đen, niêm kín.</p><p
align="justify"><img
class="alignright size-full wp-image-1919" title="laserprinting" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/03/laserprinting.jpg" alt="laserprinting" width="341" height="304" /><span
id="more-1918"></span>- Nhiệt độ quá cao, độ ẩm và các dung môi hữu cơ bay  hơi, đặc biệt là khí Amoniac rất dễ dàng làm hỏng vĩnh viễn drum.  Các nhà sản xuất đã chú trọng đến sản phẩm bán tại thị trường  Việt Nam, nên chú ý đến yếu tố khí hậu nhiệt đới gió mùa, đã hỗ  trợ máy in laser có thê chịu được nhiệt độ trên 45 oC, nhưng tốt nhất  là nhiệt độ không nên vượt quá 40oC.</p><p
align="justify">- Tránh những tác động mạnh về mặt cơ học, như va  chạm mạnh, làm rơi cartridge xuống đất&#8230;</p><p
align="justify">- Thỉnh thoảng lắc nhẹ cartridge để phân bố bột mực  in cho đều. Động tác là lắc tới lắc lui, chứ không phải dốc ngược  hộp mực dễ khiến bột mực tập trung về đầu bên kia.</p><p
align="justify">- Một vài lưu ý khác: Khi muốn mở máy in, lấy  cartridge ra ngoài, bạn nên tắt điện nguồn trước đó, chờ 5-10 phút rồi  hãy thao tác, vì các bộ nguồn cao thế bên trong máy in có thể gây ra  các cú giật điếng người. Một số máy in có thể nung nóng các cấu  kiện trong quá trình làm việc lên đến 93oC (200oF) thì bỏng tay là  điều hoàn toàn có thể xảy ra.</p><p
align="justify">Một tin vui là Việt Nam đã nghiên cứu thành công công  nghệ nano, ứng dụng trong việc sản xuất mực in cho máy in laser. Trong  tương lai gần, có thể giá thành của mực in sẽ giảm đi khá nhiều một  khi có các sản phẩm mực in laser “made in Vietnam” ra đời.</p><p
align="justify"><strong>MỘT SỐ THÔNG BÁO LỖI CỦA HỌ MÁY IN HP-LASERJET</strong></p><p
align="justify">+ 02 Warning Up: Nếu thông báo này kéo dài, có thể  cáp giao tiếp hoặc mối nối kết giao tiếp có vấn đề, kiểm tra lại  cáp máy in, cổng LPT và có thể cả mạch điện giao tiếp của máy in.</p><p
align="justify">+ 05 Self -Test: Một cuộc tự kiểm tra của máy in đang  diễn ra, nếu thông báo này kéo dài, có thể mạch điện bên trong đang  trục trặc.</p><p
align="justify">+ 11 Paper Out: Không có giấy trong khay hoặc khay giấy  gắn không chính xác vào máy</p><p
align="justify">+ 12 Printer Open: Chưa đóng nắp đậy máy in hoặc hộp  mực lắp không đúng cách</p><p
align="justify">+ 12 Printer Open or No EP: Chưa dậy nắp máy in hoặc hộp  mực EP có vấn đề (bị thiếu, bị vỡ&#8230;) cũng có thể quạt giải nhiệt  không làm việc</p><p
align="justify">+ 13 Paper Jam: Kẹt giấy trong máy in</p><p
align="justify">+ 14 No EP Cart: không có hộp mực/EP trong máy hoặc hộp  mực hỏng</p><p
align="justify">+ 14 No Toner Cart: Giống như trên</p><p
align="justify">+ 16 Toner Low: Gần hết bột mực hoặc hộp mực không  tiếp xúc tốt với mạch điện trong máy in</p><p
align="justify">+ 18 Aux I/O Init (Nt Rdy): Kiểm tra lại Card I/O</p><p
align="justify">+ 20 Mem Overflow: Lỗi tràn bộ nhớ do quá nhiều dữ  liệu gởi đến máy in &#8230;</p><p
align="right"><strong>Tạ Xuân Quan</strong></p><p
align="right"><strong>Theo eCHIP</strong></p> ]]></content:encoded> <wfw:commentRss>http://tip4pc.com/bao-ve-va-tang-tuoi-tho-catridge/feed/</wfw:commentRss> <slash:comments>0</slash:comments> </item> <item><title>[Hardware] &#8211; Cáp dữ liệu IDE: Sao lại tròn (Round cable) sao lại dẹp (Flat Ribbon cable)?</title><link>http://tip4pc.com/ide-cable/</link> <comments>http://tip4pc.com/ide-cable/#comments</comments> <pubDate>Tue, 24 Mar 2009 17:00:33 +0000</pubDate> <dc:creator>Thành Nguyễn</dc:creator> <category><![CDATA[Máy tính]]></category> <category><![CDATA[hardware]]></category><guid
isPermaLink="false">http://tip4pc.com/?p=1913</guid> <description><![CDATA[Cáp dữ liệu IDE: Sao lại tròn (Round cable) sao lại dẹp (Flat Ribbon cable)?]]></description> <content:encoded><![CDATA[<p
style="text-align: center;"><img
class="aligncenter size-full wp-image-1914" title="ide" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/03/ide.jpg" alt="ide" width="346" height="135" /></p><p
align="justify">Hiện nay trên thị trường, cáp IDE/ATA dùng cho đĩa cứng và  các ổ đĩa quang xuất hiện khá nhiều loại cable Ultra DMA 80 pins dẹp (Flat  Ribbon Cable) dùng cho các ổ đĩa cứng ATA 100/133. Loại cable này cũng tương  thích ngược (backward compatible) với loại ổ cứng cũ ATA 33/66 dùng cable 40  pins. Cable Ultra DMA 80 ngoài 40 sợi truyền dữ liệu như của loại cable IDE ATA  33/66 cũ còn có thêm 40 sợi dây nối mát (ground) nữa. Các sợi dây mát này nằm  xen kẽ với 40 đường dây điện truyền dữ liệu để khử nhiễu tín hiệu khi truyền ở  tốc độ cao (100-133MB/s cho chuẩn ATA 100/133 so với 33-66MB/s cho chuẩn ATA  33/66).</p><p
align="justify">Để tương thích ngược với các HDD có chuẩn ATA 33/66 dùng đầu  cắm 40 lỗ (40 pins connector) thì cứ một cặp dây (1 dây (+) truyền dữ liệu đi  chung với một dây mát) được nối vào một lỗ cắm trong bộ 40 lỗ cắm. Do vậy, dù  sợi cable có đến 80 sợi thật nhưng cũng chỉ có 40 lỗ cắm thôi và chỉ truyền dữ  liệu trên 40 sợi. Để phù hợp với chuẩn kích thước của cable ATA 33/66 cũ, thì  loại cable 80 sợi có các sợi dây điện nhỏ hơn, nhuyễn hơn, nếu bạn chú ý nhìn  trên sợi cable sẽ thấy những đường dây điện chỉ bằng phân nửa đường dây cũ của  sợi cable ATA 33/66.</p><p
align="justify">Tuy nhiên lọai cable phẳng, dẹp này có khuyết điểm là hơi  choáng chỗ trong case, khiến cho việc lưu thông không khí bị cản trở rất nhiều.  Đối với người “sành điệu” thích chơi máy tính, thì sử dụng cable này hơi bị mất  thẩm mỹ khi mà nhìn qua cái case trong suốt, bạn thấy một mớ quăn queo vừa cable  dữ liệu, vừa dây điện  <img
src='http://tip4pc.com/heoluoi/blog/wp-includes/images/smilies/icon_neutral.gif' alt=':|' class='wp-smiley' />   .</p><p
align="justify">Nắm được nhu cầu này, các nhà sản xuất cho ra đời loại cable  tròn (Round Cable) có nhiều màu rất đẹp, được bó nhỏ gọn lại có hình tròn nhưng  vẫn dùng loại đầu cắm 40 pin connector dẹp để gắn phù hợp với các HDD ATA  33/66/100/133 hiện giờ</p><p
align="justify"><img
class="size-full wp-image-1915 alignright" title="ide2" src="http://tip4pc.com/wp-content/uploads/2009/03/ide2.jpg" alt="ide2" width="155" height="172" /><span
id="more-1913"></span>Đặc điểm loại cable này nhỏ gọn, được thiết kế chống nhiễu  tốt nhờ các sợi được xoắn lại với nhau thành từng đôi và bọc trong một lớp vỏ  chống nhiễu (shield) (cứ một cặp dây (+) và (-) được xoắn lại với nhau và 40 cặp  như vậy lại được xoắn với nhau nữa, tương tự như cáp mạng RJ45). Phần cuối của  các sợi dây điện khi nối vào đầu cắm 40 pins connector vẫn áp dụng theo nguyên  tắc 40 sợi mát xen kẽ 40 sợi truyền dữ liệu Vậy là nó có cả hai ưu điểm : tốc độ  truyền tốt, thẩm mĩ, không choáng chỗ. Nhưng cũng vì vậy mà giá thành cao hơn  cable phẳng nhiều.</p><p
align="justify">Hiện nay nhiều bạn có nhu cầu “tái chế” lại cable 40 pins  thành round cable cho gọn gàng và đẹp mắt hơn, bằng cách tước các sợi dây điện  nhỏ trong cable phẳng rồi thì quấn lại. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên về  đặc tích của mỗi loại cable, thì việc tự &#8230; quấn này sẽ không thể đảm bảo khả  năng chống nhiễu khi truyền dữ liệu với tốc độ cao, vì không thể nào đáp ứng  được yêu cầu kỹ thuật của loại cable tròn được thiết kế đúng chuẩn.<br
/> Nếu bạn muốn thiết kế đúng như cách xoắn của round cable thì hơi bị khó, lý do  là đã bị nối với 3 đầu cắm 40 pins trên sợi cable, bạn khó mà quấn theo từng cặp  lại với nhau rồi lại quấn 40 cặp như thế mà không phải tách các sợi dây ra khỏi  các đầu cắm này.</p><p
align="justify">Một số file sau một thời gian sử dụng bị hư (lỗi corrupt  file) do trong quá trình truy xuất dữ liệu, chúng không còn đảm bảo được tính  toàn vẹn dữ liệu. Nên đôi khi sử dụng máy, bạn thường thắc mắc tại sao mà mình  không làm gì nhưng mà file cứ bị hư, một trong các lý do nằm trong nguyên nhân  đã kể trên !</p><p
align="right"><strong>T.N.D</strong></p><p
align="right"><strong>Theo eChip</strong></p><p><img
id="kosa-target-image" style="position: absolute; visibility: hidden; z-index: 2147483647; left: 128px; top: 176px;" src="data:image/png;base64,iVBORw0KGgoAAAANSUhEUgAAABYAAAAUCAYAAACJfM0wAAAABHNCSVQICAgIfAhkiAAAAAlwSFlzAAAK8AAACvABQqw0mAAAAB90RVh0U29mdHdhcmUATWFjcm9tZWRpYSBGaXJld29ya3MgOLVo0ngAAAAWdEVYdENyZWF0aW9uIFRpbWUAMDQvMDQvMDhrK9wWAAACMElEQVQ4ja3SP2gTcRQH8O8vvUtIGmkqTY3SaMVFz6KDW2ywg4s4dGgXp3SyVLIIthCKQxCCuoZaXaSO/ilKd4sSdXRL0EWtIRYaSkXsJTH33utwSZM01xo0D353v+N+97l33/upQCAwFgwGfehiFYtFUxsYGPCmUqmv3YQTicSwBgCapnXTBQBoSinout5VVCnVDr/44B/OZH0xs6KMThCfR3LRs+aTycjvbwfCmawvduZkn7EwN4TBfheY90fXN6uYuffdyGQRu3apkmyDmzM2K8pYmBvC6kcLK+/KMEsWLCIQMSyLULUIFhH0HsGNycNYnDuO6PRno9lQSsFVh+tDQSEY6MHymzJKFQILgxkgYhALmBnMDLNsIf1sA8cG3VDYYzhFAWWfRBjCAiIbIxYQE1ga17+2GSICKLQYznCtiATEDK6BIrU5MUhgd0+NH+AIt+5jshdqgkpVwEwNkBgs9lyE4XY3nnLMWNf13QEAG1uE2JVe9PUC5JCvCMPrVpifOor1YnW34/pw7NjvVbmZ+3ljcTaMq5EjbRFJ07Gw8QfTd9fg96rc3o7bMh4f9SytvDenLl7/ZADAl5cjWF7dwmy60PaSeiPjo56lv2Ycnzi0Fp9AEgAu39x8+urtT9x5/GP74a2++LlTuumo76kDd4W9ALj9qIDIiOfBhdO+jtB9O279TFcuet77fD7Wn+sU7ajj1+kTSccb/wv/aymloEKh0Fg4HPZ2E87n86Udvs4FoWqwSHUAAAAASUVORK5CYII=" alt="" /></p> ]]></content:encoded> <wfw:commentRss>http://tip4pc.com/ide-cable/feed/</wfw:commentRss> <slash:comments>0</slash:comments> </item> <item><title>Ổ đĩa cứng &#8211; HDD (phần 3)</title><link>http://tip4pc.com/o-dia-cung-hdd-phan-3/</link> <comments>http://tip4pc.com/o-dia-cung-hdd-phan-3/#comments</comments> <pubDate>Thu, 22 Jan 2009 17:00:34 +0000</pubDate> <dc:creator>Thành Nguyễn</dc:creator> <category><![CDATA[Máy tính]]></category> <category><![CDATA[hardware]]></category><guid
isPermaLink="false">http://tip4pc.com/?p=1500</guid> <description><![CDATA[Những hiểu biết về ổ cứng máy tính (phần cuối)]]></description> <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Thiết đặt chế độ hoạt động cho đĩa cứng</strong></p><p
align="justify">- <strong>Thiết đặt kênh: </strong>Các ổ đĩa cứng theo chuẩn giao tiếp  ATA thường sử dụng hai kênh trên cùng một cáp truyền dữ liệu, chúng có thể được  đặt là kênh chính (Master) hoặc kênh phụ (Slave). Việc thiết lập chỉ đơn giản là  cắm các cầu đấu vào đúng vị trí của chúng trên các chân cắm. Sơ đồ vị trí luôn  được hướng dẫn trên phần nhãn hoặc viết tắt cạnh cầu đấu như sau: <strong>MA </strong>(hoặc <strong>M</strong>) là <strong>Master</strong>, <strong>SL </strong>(hoặc <strong>S</strong>) là <strong>Slave</strong>; <strong>CS </strong>(hoặc <strong>C</strong>) là <strong>Cable select</strong> (tự động lựa chọn theo  cáp truyền dữ liệu). Nên chọn ổ đĩa cứng chứa phân vùng cài hệ điều hành làm  kênh chính, các ổ đĩa cứng vật lý dùng cho lưu trữ hoặc các tập tin không được  truy cập thường xuyên nên đặt là ổ phụ (slave).</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd18.jpg" border="0" alt="" width="277" height="173" /></p><p
align="justify">- <strong>Thiết đặt chuẩn giao tiếp: </strong>Một số ổ đĩa cứng sử dụng  giao tiếp SATA thế hệ thứ 2 (300 MBps) có thể hoạt động phù hợp hơn với bo mạch  chủ chỉ hỗ trợ giao tiếp SATA thế hệ đầu tiên (150 MBps) bằng cách đổi các cầu  đấu thiết đặt. Hướng dẫn về cách đổi có thể được ghi trên nhãn đĩa hoặc chỉ có  thể tìm thấy trong các phần hướng dẫn tại website của hãng sản xuất.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd19.jpg" border="0" alt="" width="423" height="150" /></p><p><span
id="more-1500"></span></p><p
align="justify"> </p><h3>Phân vùng (Partition)</h3><p>Phân vùng (partition) là tập hợp các vùng ghi nhớ dữ liệu trên các cylinder  gần nhau với dung lượng theo thiết đặt của người sử dụng để đáp ứng cho các mục  đích sử dụng khác nhau.</p><p>Phân chia nhiều phân vùng không phải là điều bắt buộc đối với các ổ đĩa cứng  để nó làm việc (người dùng có thể thiết đặt một phân vùng duy nhất cho cả ổ  cứng), chúng chỉ giúp cho người dùng có thể cài đặt đồng thời nhiều hệ điều hành  trên cùng một máy tính hoặc giúp việc quản lý các nội dung, lưu trữ, phân loại  dữ liệu được thuận tiện và tối ưu hơn, tránh sự phân mảnh của các tập tin.</p><p>Phân vùng ổ đĩa từ khi đĩa còn trống có ý nghĩa rất lớn, tương tự như xây  dựng cơ sở hạ tầng cho ổ cứng của mình. Chuyện phân vùng đĩa cứng thì có thể ai  cũng làm được, nhưng phân vùng như thế nào cho có hiệu quả thì lại là chuyện  khác. Những lời khuyên dưới đây giúp sử dụng ổ đĩa cứng một cách tối ưu hơn</p><p>- Càng ít ổ đĩa càng tốt (chủ yếu là dễ quản lý), nhưng phải đủ để sau này  cần thì có sẳn khỏi phải tạo thêm.</p><p>- Thiết lập phân vùng chứa hệ điều hành chính tại các vùng phía ngoài rìa của  đĩa từ (outer zone) bởi vùng này có tốc độ đọc/ghi cao hơn, dẫn đến sự khởi động  hệ điều hành và các phần mềm khởi động làm việc được nhanh hơn. Phân vùng này  thường được gán tên là C. Phân vùng chứa hệ điều hành không nên chứa các dữ liệu  quan trọng bởi chúng dễ bị virus tấn công hơn các phân vùng khác. Vệc sửa chữa  khắc phục sự cố của hệ điều hành rất dể làm mất toàn bộ dữ liệu tại phân vùng  này và phải cài lại hệ điều hành.</p><p>- Phân vùng thứ hai ngay sau phân vùng chứa hệ điều hành nên được dùng làm  phân vùng chứa dữ liệu thường xuyên truy cập hoặc thay đổi. Trong quá trình sử  dụng, nên thường xuyên thực hiện tác vụ chống phân mảnh tập tin trên phân vùng  này.</p><p>- Đặt riêng một phân vùng chứa các dữ liệu ít truy cập hoặc các file sao lưu.  Phân vùng này nên đặt sau cùng, tương ứng với vị trí của nó ở gần khu vực tâm  của đĩa (inner zone). Nên dùng tiện ích Ghost để sao lưu trọn phân vùng chứa hệ  điều hành chủ lực của bạn, có đầy đủ các phần mềm ứng dụng cần dùng nhất, lưu ở  phân vùng đó. Sau này, nếu hệ điều hành chủ lực của bạn chạy không ổn định, hoặc  nhiễm virus, hỏng Master Boot Record thì không phải lo lắng. Bạn chỉ việc phục  hồi hệ điều hành từ phân vùng đó về phân vùng khởi động là xong. Không cần phải  cài đặt lại chương trình từ đầu.</p><p>Có nhiều phần mềm có thể sử dụng để quy hoạch các phân vùng đĩa cứng: Fdisk  trong DOS, Disk Management của Windows (2000, XP) và một số phần mềm của các  hãng khác, nhưng có thể chúng chỉ đơn thuần là tạo ra các phân vùng, xoá các  phân vùng mà không thay đổi kích thước phân vùng đang tồn tại, chúng thường làm  mất dữ liệu trên phân vùng thao tác. Partition Magic (hiện tại của hãng  Symantec) thường được nhiều người sử dụng bởi tính năng mạnh mẽ, giao diện thân  thiện và đặc biệt là không làm mất dữ liệu khi thao tác với các phân vùng.</p><h3>Định dạng của phân vùng</h3><p
align="justify">Lựa chọn định dạng các phân vùng là hành động tiếp sau khi quy hoạch phân vùng ổ đĩa cứng. Tuỳ thuộc vào các hệ điều hành sử dụng mà cần lựa chọn các kiểu định dạng sử dụng trên ổ đĩa cứng. Một số định dạng sử dụng trong các hệ điều hành họ Windows có thể là:</p><p
align="justify">FAT (File Allocation Table): Chuẩn hỗ trợ DOS và các hệ điều hành họ Windows 9X/Me (và các hệ điều hành sau). Phân vùng FAT hỗ trợ độ dài tên 11 ký tự (8 ký tự tên và 3 ký tự mở rộng) trong DOS hoặc 255 ký tự trong các hệ điều hành 32 bit như Windows 9X/Me. FAT có thể sử dụng 12 hoặc 16 bit, kích thước tối đa của một phân vùng FAT là 2 GB.</p><p
align="justify">FAT32 (File Allocation Table, 32-bit): Tương tự như FAT, nhưng nó được hỗ trợ bắt đầu từ hệ điều hành Windows 95 OSR2 và toàn bộ các hệ điều hành sau này. Dung lượng tối đa của một phân vùng FAT32 có thể lên tới 2 TB (2.048 GB) nhưng do giới hạn dung lượng phân vùng đối với các ổ đĩa lớn nên kích thước lớn nhất của một phân vùng (cũng là kích thước của một ổ đĩa logic) khi sử dụng FAT32 là 32GB (và kích thước một tập tin tối đa là 4GB).</p><p
align="justify">NTFS (Windows NT File System): Được hỗ trợ bắt đầu từ các hệ điều hành họ NT/2000/XP/Vista. Một phân vùng NTFS có thể có dung lượng tối đa đến 16 Exabytes.</p><p
align="justify">Không chỉ có thế, các hệ điều hành họ Linux sử dụng các loại định dạng tập tin riêng. Có nhiều lý do có tính thuyết phục để sử dụng NTFS trên tất cả các phân vùng đĩa cứng của bạn. Việc mã hoá tập tin (File encryption), nén tập tin, cấp hạn ngạch đĩa (disk quotas), tính bảo mật ở mức độ từng tập tin, và những đặc trưng khác của Windows đòi hỏi NTFS. Bạn không thể sử dụng các đặc tính này trên các phân vùng được định dạng trong các hệ thống tập tin FAT. Vì NTFS là một hệ thống tập tin mạnh hơn, nó cũng đòi hỏi sự phục vụ nhiều hơn của hệ thống (tức là làm cho hiệu suất của hệ thống có thể giảm đi). Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, sự khác biệt nhỏ về hiệu suất không có gì là đáng kể so với những ưu điểm mà nó mang lại.</p><p
align="justify"> </p><h3>Format</h3><p
align="justify">Format là sự định dạng các vùng ghi dữ liệu của ổ đĩa cứng.  Tuỳ theo từng yêu cầu mà có thể thực hiện sự định dạng này ở các thể loại cấp  thấp hay sự định dạng thông thường.</p><p
align="justify">- <em>Format cấp thấp (low-level format):</em> là sự định dạng  lại các track, sector, cylinder. Format cấp thấp thường được các hãng sản xuất  thực hiện lần đầu tiên trước khi xuất xưởng các ổ đĩa cứng. Người sử dụng chỉ  nên dùng các phần mềm của chính hãng sản xuất để format cấp thấp (cũng có các  phần mềm của hãng khác nhưng có thể các phần mềm này không nhận biết đúng các  thông số của ổ đĩa cứng khi tiến hành định dạng lại).</p><p
align="justify">Khi các ổ cứng đã làm việc nhiều năm liên tục hoặc có các  khối hư hỏng xuất hiện nhiều, điều này có hai khả năng: sự lão hoá tổng thể hoặc  sự rơ rão của các phần cơ khí bên trong ổ đĩa cứng. Cả hai trường hợp này đều  dẫn đến một sự không đáng tin cậy khi lưu trữ dữ liệu quan trọng trên nó, do đó  việc định dạng cấp thấp có thể kéo dài thêm một chút thời gian làm việc của ổ  đĩa cứng để lưu các dữ liệu không mấy quan trọng. Format cấp thấp giúp cho sự  đọc/ghi trên các track đang bị lệch lạc trở thành phù hợp hơn khi các track đó  được định dạng lại.</p><p
align="justify">- <em>Format cấp cao (high-level format):</em> là các hình thức  format thông thường mà người sử dụng thực hiện bởi các lệnh sẵn có trong các hệ  điều hành (DOS hoặc Windows), hình thức format này có thể có hai dạng:</p><p
align="justify"><em>Format nhanh (quick): </em>Đơn thuần là xoá vị trí lưu trữ  của dữ liệu trong danh sách theo dõi để hệ điều hành hoặc các phần mềm có thể  ghi đè dữ liệu mới lên các dữ liệu cũ.</p><p
align="justify"><em>Format thông thường:</em> Xoá bỏ các dữ liệu cũ và đồng  thời kiểm tra phát hiện khối hư hỏng (bad block), đánh dấu chúng để chúng không  còn được vô tình sử dụng đến trong các phiên làm việc sắp tới (nếu không có sự  đánh dấu này, hệ điều hành sẽ ghi dữ liệu vào khối hư hỏng đó vì không biết và  sau này có thể không đọc lại được dữ liệu đã ghi).</p><p
align="justify"> </p><h3>Lắp ráp ổ cứng</h3><p
align="justify">- Chọn một vị trí thích hợp trên các giá có sẵn của case để  đặt ổ cứng, sao cho ở mặt trên và mặt dưới ổ cứng có khoảng trống để dể giải  nhiệt. Vặt vít 2 bên để cố định ổ cứng với Case, dùng vít răng thưa và vặn vừa  cứng tay để không làm hư răng mà vẫn đủ chặt để ổ cứng không bị rung.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd20.jpg" border="0" alt="" width="311" height="200" /></p><p
align="justify">- Nối dây dữ liệu vào ổ cứng, đầu cáp IDE rộng và có gờ ở 1  cạnh dài để chống cắm ngược, đầu cáp SATA nhỏ và có gờ chống cắm ngược ở 1 cạnh  ngắn. Lưu ý: Trong trường hợp nối 2 ổ cứng IDE trên cùng một dây dữ liệu, bạn  cần phải xác lập ổ chính, ổ phụ bằng Jumper trên ỗ đĩa (xem hướng dẫn thiết lập  in trên nhãn đĩa)</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd21.jpg" border="0" alt="" width="345" height="107" /></p><p
align="justify">Sau đó, cắm đầu cuối của cáp dữ liệu vào đầu nối IDE hay SATA  (tùy theo loại ổ cứng) trên bo mạch chủ. Xem ký hiệu ghi trên bo mạch chủ để xác  định vị trí chính xác của đường cáp chính và phụ.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd22.jpg" border="0" alt="" width="393" height="118" /></p><p
align="justify">- Nối đầu cắm dây nguồn vào ổ cứng, đầu cắm nguồn cho ổ IDE  nhỏ hơn đầu cắm dữ liệu, thường có màu trẳng với 2 cạnh vát để chống cắm ngược,  đầu cắm nguồn cho ổ SATA lớn hơn đầu cắm dữ liệu, thường có màu đen, có các gờ  bên hông và mặt dưới để chống cắm ngược.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd23.jpg" border="0" alt="" width="300" height="167" /></p><p
align="justify">Bạn có thể gắn thêm một quạt giải nhiệt vào mặt dưới của HDD  nếu muốn HDD mát hơn trong quá trình hoạt động.</p><p
align="justify">Sau khi lắp ráp hoàn chỉnh, vị trí ổ cứng và các dây cáp sẽ  tương tự như hình minh họa</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd24.jpg" border="0" alt="" width="259" height="199" /></p><p
align="right"><strong>Duy Thông</strong></p><p
align="right"><strong>Sưu tầm<br
/> </strong></p> ]]></content:encoded> <wfw:commentRss>http://tip4pc.com/o-dia-cung-hdd-phan-3/feed/</wfw:commentRss> <slash:comments>0</slash:comments> </item> <item><title>Ổ đĩa cứng &#8211; HDD (Phần 2)</title><link>http://tip4pc.com/o-dia-cung-phan-2/</link> <comments>http://tip4pc.com/o-dia-cung-phan-2/#comments</comments> <pubDate>Wed, 21 Jan 2009 17:00:00 +0000</pubDate> <dc:creator>Thành Nguyễn</dc:creator> <category><![CDATA[Máy tính]]></category> <category><![CDATA[hardware]]></category><guid
isPermaLink="false">http://tip4pc.com/?p=1493</guid> <description><![CDATA[Những hiểu biết về Ổ đĩa cứng (phần 2)]]></description> <content:encoded><![CDATA[<h3>Các thành phần cấu tạo ổ đĩa cứng</h3><p
align="justify">Ổ đĩa cứng gồm các thành phần, bộ phận có thể liệt kê tổng  quát và giải thích như sau:</p><h4>1. Cụm đĩa</h4><p
align="justify">- <strong>Đĩa từ (platter): </strong>Thường bằng nhôm hoặc thuỷ tinh,  trên bề mặt được phủ một lớp vật liệu từ tính để chứa dữ liệu. Tuỳ theo hãng sản  xuất mà số lượng đĩa có thể nhiều hơn một và các đĩa này được sử dụng một hoặc  cả hai mặt trên và dưới. Các đĩa từ được gắn song song, quay đồng trục, cùng tốc  độ với nhau khi hoạt động.</p><p
align="justify">- <strong>Động cơ và trục quay: </strong>các đĩa từ được gắn lên trục  quay nối trực tiếp với động cơ quay đĩa cứng. Trục quay có nhiệm vụ truyền  chuyển động quay từ động cơ đến các đĩa từ. Trục quay được chế tạo bằng các vật  liệu nhẹ như hợp kim nhôm và được chế tạo tuyệt đối chính xác để đảm bảo trọng  tâm của chúng không bị sai lệch.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd12.jpg" border="0" alt="" width="408" height="147" /></p><h4>2. Cụm đầu đọc</h4><p
align="justify">- <strong>Đầu đọc/ghi (head): </strong>Đầu đọc đơn giản được cấu tạo  gồm lõi ferit và cuộn dây (giống như nam châm điện). Đầu đọc trong đĩa cứng có  công dụng đọc dữ liệu dưới dạng từ hoá trên bề mặt đĩa từ hoặc từ hoá lên các  mặt đĩa khi ghi dữ liệu. Số đầu đọc ghi luôn bằng số mặt hoạt động được của các  đĩa cứng.</p><p
align="justify"><span
id="more-1493"></span>- <strong>Cần di chuyển đầu đọc/ghi </strong>(<strong>head arm </strong>hoặc <strong> actuator arm</strong>): Đầu đọc/ghi được gắn vào cần di chuyển đầu đọc/ghi. Cần có  nhiệm vụ di chuyển theo phương song song với các đĩa từ ở một khoảng cách nhất  định, dịch chuyển và định vị chính xác đầu đọc tại các vị trí từ mép đĩa đến  vùng phía trong của đĩa (phía trục quay). Các cần di chuyển đầu đọc được di  chuyển đồng thời với nhau do chúng được gắn chung trên một trục quay (đồng  trục).</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd13.jpg" border="0" alt="" width="424" height="165" /></p><h4>3. Cụm mạch điện</h4><p
align="justify">- <strong>Mạch điều khiển:</strong> có nhiệm vụ điều khiển động cơ đồng  trục, điều khiển sự di chuyển của cần di chuyển đầu đọc để đảm bảo đến đúng vị  trí trên bề mặt đĩa.</p><p
align="justify">- <strong>Mạch xử lý dữ liệu:</strong> dùng để xử lý những dữ liệu  đọc/ghi của ổ đĩa cứng.</p><p
align="justify">- <strong>Bộ nhớ đệm</strong> (<strong>cache</strong> hoặc <strong>buffer</strong>): là nơi  tạm lưu dữ liệu trong quá trình đọc/ghi dữ liệu. Dữ liệu trên bộ nhớ đệm sẽ mất  đi khi ổ đĩa cứng ngừng được cấp điện.</p><p
align="justify">-<strong> Đầu cắm nguồn</strong> cung cấp điện cho ổ đĩa cứng.</p><p
align="justify">- <strong>Đầu kết nối</strong> giao tiếp với máy tính.</p><p
align="justify">- <strong>Các cầu nối</strong> (jumper): Lựa chọn chế độ làm việc của ổ  đĩa cứng (SATA 150 hoặc SATA 300) hay thứ tự trên các kênh trên giao tiếp IDE  (master hay slave hoặc tự lựa chọn), lựa chọn các thông số làm việc khác&#8230;</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd14.jpg" border="0" alt="" width="433" height="151" /></p><h4>4. Vỏ đĩa cứng</h4><p
align="justify">Phần đế chứa các linh kiện gắn trên nó, phần nắp đậy lại để  bảo vệ các linh kiện bên trong. Vỏ ổ đĩa cứng có chức năng chính nhằm định vị  các linh kiện, chịu đựng sự va chạm (ở mức độ thấp) để bảo vệ ổ đĩa cứng và đảm  bảo độ kín khít để không cho phép bụi được lọt vào bên trong của ổ đĩa cứng.  Trên vỏ bảo vệ có các lỗ thoáng đảm bảo cản bụi và cân bằng áp suất giữa môi  trường bên ngoài và môi trường không khí có độ sạch cao bên trong.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd15.jpg" border="0" alt="" width="424" height="147" /></p><h3>Cấu trúc dữ liệu của đĩa cứng</h3><h4>Track</h4><p
align="justify">Trên một mặt làm việc của đĩa từ chia ra nhiều vòng tròn đồng  tâm tạo thành các track (rãnh) để xác định các vùng lưu trữ dữ liệu riêng biệt  trên mặt đĩa. Track trên ổ đĩa cứng không cố định từ khi sản xuất, chúng có thể  thay đổi vị trí khi định dạng cấp thấp ổ đĩa (low format).</p><p
align="justify">Khi một ổ đĩa cứng đã hoạt động nhiều năm liên tục, phần cơ  của nó sẽ bị bào mòn và làm việc không chính xác như khi mới sản xuất. Nếu kiểm  tra bằng các phần mềm cho thấy nhiều vùng trên đĩa bị hư hỏng (bad block) thì  nên tín hành format cấp thấp cho nó để tái cấu trúc lại các track cho phù hợp  hơn với sự xuống cấp của phần cơ.</p><h4>Sector</h4><p
align="justify">Mỗi track được chia thành những phần nhỏ bằng các đoạn hướng  tâm tạo thành các sector (cung từ). Sector là đơn vị chứa dữ liệu nhỏ nhất. Theo  chuẩn thông thường thì một sector chứa (dung lượng) 512 byte. Số sector trên các  track từ phần rìa đĩa vào đến vùng tâm đĩa là khác nhau, các ổ đĩa cứng đều chia  ra hơn 10 vùng mà trong mỗi vùng có số sector/track bằng nhau.</p><h4>Cluster</h4><p
align="justify">Trong lĩnh vực lưu trữ dữ liệu (đĩa mềm hoặc đĩa cứng) ở mức  độ hệ điều hành (HĐH), cluster (liên cung) là một đơn vị lưu trữ gồm một hoặc  nhiều sector. Khi HĐH lưu trữ một tập tin vào đĩa, nó ghi tập tin đó vào hàng  chục, có khi hàng trăm cluster liền nhau. Nếu không sẵn cluster liền nhau, HĐH  sẽ tìm kiếm cluster còn trống ở kế đó và ghi tiếp tập tin lên đĩa. Quá trình cứ  tiếp tục như vậy cho đến khi toàn bộ được cất giữ hết.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd16.jpg" border="0" alt="" width="186" height="202" /></p><h4>Cylinder<strong> </strong></h4><p
align="justify">Tập hợp các track cùng bán kính ở các mặt đĩa khác nhau tạo  thành các cylinder (trụ). Trên đĩa hai mặt, một cylinder sẽ bao gồm rãnh 1 của  mặt trên và rãnh 1 của mặt dưới. Trên các đĩa cứng sắp xếp cái này chồng lên cái  kia, một cylinder gồm các rãnh trên cả hai mặt của tất cả các đĩa. Trên một ổ  đĩa cứng có nhiều cylinder bởi có nhiều track trên mỗi mặt đĩa từ.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd17.jpg" border="0" alt="" width="187" height="176" /></p><h3>Đọc và ghi dữ liệu trên bề mặt đĩa</h3><p
align="justify">Sự hoạt động của đĩa cứng cần thực hiện đồng thời hai chuyển  động: Chuyển động quay của các đĩa và chuyển động ra vô của các đầu đọc. Đĩa từ  quay được nhờ gắn cùng trục với động cơ và có tốc độ rất lớn từ 3600 đến 15.000  vòng/phút. Mỗi loại ổ đĩa cứng có một tốc độ nhất định tùy theo công nghệ chế  tạo.</p><p
align="justify">Khi đĩa cứng quay đều, cần di chuyển đầu đọc sẽ di chuyển đến  các vị trí trên bề mặt phủ vật liệu từ theo phương bán kính của đĩa. Chuyển động  này kết hợp với chuyển động quay của đĩa có thể làm đầu đọc/ghi tới bất kỳ vị  trí nào trên bề mặt đĩa.</p><p
align="justify">Tại các vị trí cần đọc ghi, đầu đọc/ghi có các bộ cảm biến  với điện trường để đọc hay ghi dữ liệu.</p><p
align="justify">Dữ liệu được ghi/đọc đồng thời trên mọi đĩa. Việc thực hiện  phân bổ dữ liệu trên các đĩa được thực hiện nhờ các mạch điều khiển trên bo mạch  của ổ đĩa cứng.</p><p
style="text-align: right;"><em>còn tiếp</em></p><p
style="text-align: right;"><strong>Duy Thông</strong></p><p
style="text-align: right;"><strong>Sưu tầm</strong></p> ]]></content:encoded> <wfw:commentRss>http://tip4pc.com/o-dia-cung-phan-2/feed/</wfw:commentRss> <slash:comments>0</slash:comments> </item> <item><title>Ổ đĩa cứng &#8211; HDD</title><link>http://tip4pc.com/o-dia-cung/</link> <comments>http://tip4pc.com/o-dia-cung/#comments</comments> <pubDate>Mon, 19 Jan 2009 17:00:25 +0000</pubDate> <dc:creator>Thành Nguyễn</dc:creator> <category><![CDATA[Máy tính]]></category> <category><![CDATA[hardware]]></category><guid
isPermaLink="false">http://tip4pc.com/?p=1490</guid> <description><![CDATA[Những hiểu biết về ổ đĩa cứng máy vi tính]]></description> <content:encoded><![CDATA[<h3>Tổng quan</h3><p>Ổ đĩa cứng, hay còn gọi là ổ cứng (tiếng Anh: <strong>H</strong>ard <strong>D</strong>isk <strong>D</strong>rive,  viết tắt: <strong>HDD</strong>) là thiết bị dùng để lưu trữ dữ liệu trên bề mặt các tấm  đĩa hình tròn (bằng nhôm, thủy tinh hay gốm) phủ vật liệu từ tính. Ổ đĩa cứng là  loại bộ nhớ &#8220;không thay đổi&#8221; (non-volatile), có nghĩa là chúng không bị mất dữ  liệu khi ngừng cung cấp nguồn điện cho chúng.</p><p>Về mặt kỹ thuật thì ổ đĩa cứng là một khối duy nhất, các phiến đĩa được lắp  ráp cố định trong ổ ngay từ khi sản xuất nên không thể thay thế được các &#8220;đĩa  cứng&#8221; như cách hiểu đối với ổ đĩa mềm hoặc ổ đĩa quang (CD/DVD)</p><p>Bên trong một ổ đĩa cứng các bộ phận chính: Cơ cấu truyền động đầu từ  (actuator) điều khiển cánh tay đầu từ (actuator arm) đọc thông tin từ phiến đĩa  (plater) được quay liên tục nhờ gắn “chết” vào trục quay của động cơ liền trục  (spindle motor). Dữ liệu được truyền ra ngoài nhờ cáp nối có dạng dãi băng mềm  (ribbon cable). Vỏ ổ đĩa (chassis) bao giữ tất cả các bộ phận của đĩa cứng.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.files.wordpress.com/2009/01/hdd.jpg" border="0" alt="" width="434" height="155" /></p><p
align="center"><p>Ổ đĩa cứng là một thiết bị rất quan trọng trong hệ thống bởi chúng chứa dữ  liệu thành quả của một quá trình làm việc của những người sử dụng máy tính.  Những sự hư hỏng của các thiết bị khác trong hệ thống máy tính có thể sửa chữa  hoặc thay thế được, nhưng dữ liệu bị mất do yếu tố hư hỏng phần cứng của ổ đĩa  cứng thường rất khó lấy lại được.</p><p>- Các công ty chế tạo IDE đã cố gắng khắc phục khoảng cách tốc độ này bằng  phương pháp đánh địa chỉ logic khối (Logical Block Addressing &#8211; LBA). Các ổ đĩa  này được gọi là EIDE. Cùng lúc với sự ra đời của EIDE, các nhà sản xuất SCSI đã  tiếp tục cải tiến tốc độ SCSI. Những cải tiến đó đồng thời khiến cho giá thành  của giao tiếp SCSI cao thêm.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.files.wordpress.com/2009/01/hdd2.jpg" border="0" alt="" width="223" height="189" /></p><p
align="center"><em>Ổ đĩa SCSI</em></p><p>- Để có thể vừa nâng cao hiệu suất của EIDE vừa không làm tăng chi phí cho  các linh kiện điện tử không có cách nào khác là phải thay giao diện kiểu  parallel (song song) bằng kiểu serial (nối tiếp), và kết quả là sự ra đời của  giao diện SATA.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.files.wordpress.com/2009/01/hdd3.jpg" border="0" alt="" width="287" height="210" /></p><p
align="center"><em>Ổ đĩa SATA</em></p><p><span
id="more-1490"></span>Trước đây, các chuẩn ATA (IDE, EIDE) và SATA thế hệ đầu tiên được sử dụng phổ  biến trong máy tính cá nhân thông thường trong khi chuẩn SCSI có tốc độ cao hơn  được sử dụng chủ yếu trong máy chủ và máy trạm. Gần đây, các chuẩn SATA thế hệ  tiếp theo với tốc độ giao tiếp cao hơn đang được sử dụng rộng rãi trong các máy  tính cá nhân sử dụng các thế hệ chipset mới.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.files.wordpress.com/2009/01/hdd4.jpg" border="0" alt="" width="284" height="142" /></p><h3>Các thông số của ổ đĩa cứng</h3><p>- <strong>Chuẩn giao tiếp:</strong> Có nhiều chuẩn giao tiếp khác nhau giữa ổ đĩa cứng  bo mạch chủ, sự đa dạng này một phần xuất phát từ yêu cầu tốc độ đọc/ghi dữ liệu  khác nhau giữa các hệ thống máy tính, phần còn lại do các ổ giao tiếp nhanh có  giá thành cao hơn nhiều so với các chuẩn thông dụng. Ba chuẩn thông dụng hiện  nay là EIDE, SCSI, và SATA.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.files.wordpress.com/2009/01/hdd5.jpg" border="0" alt="" width="276" height="200" /></p><p>- <strong>Dung lượng:</strong> Dung lượng của ổ đĩa cứng được tính theo các đơn vị dung  lượng cơ bản thông thường là Byte, KB, MB, GB, TB. Trước đây, khi dung lượng ổ  cứng còn thấp người ta thường dùng đơn vị là MB. Bây giờ, người ta lại dùng đơn  vị là GB và trong tương lai, chắc người ta sẽ tính theo TB. Đa số các hãng sản  xuất đều tính dung lượng theo cách tính 1GB = 1000MB trong khi hệ điều hành  (hoặc các phần mềm kiểm tra) lại tính 1GB = 1024MB nên dung lượng do hệ điều  hành báo cáo thường thấp hơn so với dung lượng ghi trên nhãn đĩa (ví dụ ổ đĩa  cứng 40 GB thường chỉ đạt khoảng 37-38 GB).</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.files.wordpress.com/2009/01/hdd6.jpg" border="0" alt="" width="268" height="190" /></p><p
align="justify">- <strong>Tốc độ quay: </strong>Tốc độ quay của đĩa cứng được ký hiệu  là rpm (revolutions per minute &#8211; số vòng quay trong một phút). Tốc độ quay càng  cao thì ổ đĩa làm việc càng nhanh do chúng thực hiện việc đọc/ghi nhanh hơn,  thời gian tìm kiếm thấp hơn.</p><p
align="justify">Các tốc độ quay thông dụng hiện nay là 5.400 rpm (thông dụng  với các ổ đĩa cứng 3,5” sản xuất cách đây 2-3 năm) và 7.200 rpm (thông dụng với  các ổ đĩa cứng sản xuất từ 2008). Ngoài ra, tốc độ của các ổ đĩa cứng trong các  máy tính cá nhân cao cấp, máy trạm và các máy chủ có sử dụng giao tiếp SCSI có  thể lên tới 10.000 rpm hay 15.000 rpm.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.files.wordpress.com/2009/01/hdd7.jpg" border="0" alt="" width="276" height="172" /></p><p
align="justify">- <strong>Bộ nhớ đệm </strong>(<strong>cache</strong> hoặc <strong>buffer</strong>): Bộ nhớ  đệm có nhiệm vụ lưu tạm dữ liệu trong quá trình làm việc của ổ đĩa cứng nên độ  lớn của bộ nhớ đệm có ảnh hưởng đáng kể tới hiệu suất hoạt động của ổ đĩa cứng  bởi việc đọc/ghi không xảy ra tức thời (do phụ thuộc vào sự di chuyển của đầu  đọc/ghi, dữ liệu được truyền tới hoặc đi) sẽ được đặt tạm trong bộ nhớ đệm.  Trong thời điểm năm 2007, dung lượng bộ nhớ đệm thường là 2 hoặc 8 MB cho các  loại ổ đĩa cứng dung lượng đến 160 GB và 16 MB hoặc cao hơn cho các ổ đĩa cứng  dụng lượng lớn hơn.</p><p
align="justify">- <strong>Tốc độ truyền dữ liệu: </strong>Đa phần tốc độ truyền dữ liệu  trên các chuẩn giao tiếp thấp hơn so với thiết kế của nó bởi có nhiều thông số  ảnh hưởng đến tốc độ truyền dữ liệu của ổ đĩa cứng như: tốc độ quay của đĩa từ,  số lượng đĩa từ trong ổ đĩa cứng, công nghệ chế tạo, dung lượng bộ nhớ đệm…</p><p
align="justify">- <strong>Kích thước: </strong>Để đảm bảo thay thế lắp ráp vừa với các  loại máy tính, kích thước của ổ đĩa cứng được chuẩn hoá thành 6 loại là: 5,25  inch dùng trong các máy tính các thế hệ trước. 3,5 inch dùng cho các máy tính cá  nhân, máy trạm, máy chủ. 2,5 inch dùng cho máy tính xách tay. 1,8 inch hoặc nhỏ  hơn dùng trong các thiết bị kỹ thuật số cá nhân và PC Card. 1,0 inch dùng cho  các thiết bị siêu nhỏ (micro device).</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd8.jpg" border="0" alt="" width="356" height="284" /></p><p
align="center"><em>Kích thước ổ đĩa cứng 1,8”, 2,5” và 3,5” (từ trái qua phải)</em></p><h3>Các công nghệ đặc biệt cho ổ đĩa cứng</h3><h4>1. S.M.A.R.T</h4><p>(Self-<strong>M</strong>onitoring, <strong>A</strong>nalysis,  and <strong>R</strong>eporting <strong>T</strong>echnology) là công nghệ tự động giám sát tình trạng  hoạt động của ổ đĩa cứng để thông qua BIOS, các phần mềm thông báo cho người sử  dụng biết trước các hư hỏng có thể xẩy ra để có các hành động chuẩn bị đối phó  (như sao chép dữ liệu dự phòng hoặc có các kế hoạch thay thế ổ đĩa cứng mới).  S.M.A.R.T chỉ giám sát những sự thay đổi, ảnh hưởng của phần cứng đến quá trình  lỗi xảy ra của ổ đĩa cứng bao gồm những hư hỏng theo thời gian của phần cứng  như: đầu đọc/ghi (mất kết nối, khoảng cách làm việc với bề mặt đĩa thay đổi),  động cơ (xuống cấp, mòn trục), bo mạch của ổ đĩa (hư hỏng linh kiện hoặc làm  việc sai). S.M.A.R.T không hề ảnh hưởng đến tốc độ làm việc và truyền dữ liệu  của ổ đĩa cứng. Gần đây S.M.AR.T được coi là một tiêu chuẩn quan trọng trong ổ  đĩa cứng và người sử dụng có thể bật (enable) hoặc tắt (disable) chức năng này  trong BIOS.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd9.jpg" border="0" alt="" width="291" height="258" /></p><h4>2. Ổ cứng lai</h4><p>(hybrid hard disk drive) là các ổ đĩa  cứng thông thường được gắn thêm các phần bộ nhớ flash trên bo mạch của ổ đĩa  cứng. Cụm bộ nhớ flash này hoạt động khác với cơ chế làm việc của bộ nhớ đệm  (cache) của ổ đĩa cứng do dữ liệu chứa trên chúng không bị mất đi khi mất điện  nguồn. Vai trò của phần bộ nhớ flash là:</p><p
align="justify">- Lưu trữ dữ liệu trước khi ghi vào đĩa cứng, chỉ khi máy  tính đã đưa các dữ liệu đến một mức nhất định (tuỳ từng loại ổ cứng lai) thì ổ  đĩa cứng mới tiến hành ghi dữ liệu vào các đĩa từ, điều này giúp sự vận hành của  ổ đĩa cứng hiệu quả và tiết kiệm điện năng hơn nhờ việc không phải thường xuyên  hoạt động.</p><p
align="justify">- Giúp tăng tốc độ giao tiếp với máy tính vì việc đọc dữ liệu  từ bộ nhớ flash nhanh hơn so với việc đọc dữ liệu tại các đĩa từ.</p><p
align="justify">- Giúp hệ điều hành khởi động nhanh hơn nhờ việc lưu các tập  tin khởi động của hệ thống vào bộ nhớ flash.</p><p
align="justify">- Kết hợp với bộ nhớ đệm của ổ đĩa cứng tạo thành một hệ  thống hoạt động hiệu quả.</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd10.jpg" border="0" alt="" width="424" height="259" /></p><p
align="justify">Những ổ cứng lai được sản xuất hiện nay thường sử dụng bộ nhớ  flash với dung lượng không lớn (128, 256 MB) vì giá thành sản xuất bộ nhớ flash  quá cao. Do sử dụng dung lượng nhỏ như vậy nên tốc độ làm việc chưa được cải  thiện nhiều và người sử dụng thường khó nhận ra sự hiệu quả của chúng khi thực  hiện các tác vụ thông thường. Do ổ cứng lai có giá thành khá đắt (khoảng 300 USD  cho dung lượng 32 GB) nên chúng chỉ mới được sử dụng trong một số loại máy tính  xách tay cao cấp.</p><h4>3. Ổ cứng SSD</h4><p>(<strong>S</strong>olid-<strong>S</strong>tate <strong>D</strong>rive)  là ổ cứng không sử dụng đĩa từ mà hoàn toàn dựa trên bộ nhớ flash NAND. Do đó, ổ  cứng SSD có độ bền cao khi di chuyển (do không có bộ phận cơ khí), tiêu thụ ít  điện năng hơn, nhẹ hơn, nhỏ hơn và tốc độ làm việc nhanh hơn ổ cứng thông thường  rất nhiều.</p><p
align="justify">Hiện giá SSD vẫn còn cao so với túi tiền của người tiêu dùng,  dù vẫn giảm 30%/năm. Ví dụ, loại 64 GB giá khoảng 900 USD, 128 GB giá 1.500 USD  trong khi ổ cứng thông thường dung lượng tương đương chỉ có giá trên dưới 100  USD</p><p
align="center"><img
src="http://tip4pc.wordpress.com/files/2009/01/hdd11.jpg" border="0" alt="" width="275" height="165" /></p><p
style="text-align: right;"><em>còn tiếp</em></p><p
style="text-align: right;"><strong>Duy Thông</strong></p><p
style="text-align: right;"><strong>Sưu tầm</strong></p> ]]></content:encoded> <wfw:commentRss>http://tip4pc.com/o-dia-cung/feed/</wfw:commentRss> <slash:comments>0</slash:comments> </item> </channel> </rss>
<!-- Served from: tip4pc.com @ 2010-09-08 15:47:14 by W3 Total Cache -->